VIÊM ĐĨA ĐỆM ĐỐT SỐNG DO VI KHUẨN

img601

 

I.ĐẠI CƯƠNG

Định nghĩa: Viêm đĩa điệm đốt sống do vi khuẩn ( septic spondylitis) là tổn thương viêm tại  đĩa điệm đốt sống gây nên bởi  vi khuẩn thường. Định nghĩa này loại trừ viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn lao ( bệnh pott) . Bệnh có thể khỏi hoàn toàn nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kháng sinh đúng. Giai đoạn muộn, có thể chèn ép thần kinh, gây liệt.

Nguyên nhân gây bệnh: vi khuẩn thường gặp là tụ cầu – Staphylococcus, đặc biệt là tụ cầu vàng – S. aureus (60%); sau đó là Enterobacteriaceae (20%). Thường sảy ra sau các thủ thuật tại vùng cột sống như tiêm cạnh cột sống, tiêm khớp liên mỏn gai, chọn hút sinh thiết hoặc đổ xing măng ( ciment) tại đốt sống… hoặc nội soi vùng sinh dục tiết niệu.

II.GIẢI PHẨU CỘT SỐNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ

BỆNH SINH

1. Giải phẫu cột sống và các thành phần liên quan

Cột sống được cấu tạo từ 32 hoặc 33 đốt sống  và được chia thành 5 đoạn theo chức năng đó là đoạn cổ, đoạn lưng, đoạn thắt lưng, đoạn cùng, đoạn cụt. Các đốt sống nằm chồng lên nhau và đệm giữa các thân đốt sống là các đĩa đệm gian đốt sống, riêng giữa CI – CII và đoạn cùng, cụt không có đĩa đệm.

– Đặc điểm chung của các đốt sống:

Cấu tạo của một thân đốt sống gồm các thành phần sau:

Thân đốt sống: là một khối xương ở phía trước, hình trụ dẹp có hai mặt và một vành xunh quanh. Hai mặt của thân đốt sống sẽ tiếp khớp với các thân đốt sống trên và dưới qua đĩa đệm. Phía trước và phía sau thân đốt sống có dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau chạy qua.

Cung đốt sống: là mảnh xương cong ở phía sau thân đốt sống. Một cung gồm có: phía sau rộng dẹt gọi là mảnh cung đốt sống và hai cuống cung đốt sống. Cuống cung đốt sống là phần trước cung dính vào thân đốt sống. Bờ trên và dưới của mỗi cuống đều lõm gọi là khuyết sống trên và dưới. Khi hai đốt sống khớp với nhau thì các khuyết này hợp thành lỗ gian đốt sống, có các dây thần kinh sống và các mạch máu đi qua.

Các mỏm: mỗi đốt sống có 7 mỏm đều từ cung đốt sống tách ra, đó là 1 mỏm gai, 2 mỏm ngang và 4 mỏm khớp.

Lỗ đốt sống: giới hạn bởi mặt sau thân đốt sống và mặt trước cung sống. khi các đốt sống chồng lên nhau tạo thành cột sống thì các lỗ này hợp thành ống sống có tủy sống nằm ở trong.

Đĩa gian đốt sống: mỗi đĩa đệm là hình thấu kính hai mặt lồi, cấu tạo bởi 2 phần: Phần chu vi hay vòng sợi gồm nhiều vòng sợi đồng tâm và rất chun giãn; Phần giữa có một nhân keo là di tích của dây sống. Nhân keo cũng rất đàn hồi , có xu hướng phình ra theo chiều đứng dọc,có thể giảm nhẹ các va chạm, chấn động của các đốt sống.

Các thành phần liên kết giữa các mỏm của cột sống: có dây chằng gian mỏm gai, dây chằng gian mỏm gai ngang và bao khớp càng xuống thấp càng chắc được tăng cường bởi dây chằng vàng,dây chằng dọc sau.

– Tủy sống

Nằm trong ống sống, từ bờ trên của cột sống cổ I đến bờ dưới của đốt sống thắt lưng I hoặc bờ trên của đốt sống thắt lưng II. Do chiều dài của tủy ngắn hơn chiều dài của cột sống nên các khoanh tủy không khớp với đốt sống tương ứng.

– Mạch máu

Các đốt sống được nuôi dưỡng bởi các động mạch tách ra từ động mạch chủ. Mỗi động mạch này nuôi dưỡng nửa trên và nửa dưới của hai đốt sống kề nhau. Đĩa đệm của đốt sống không có mạch máu. Đĩa đệm được nuôi dưỡng  bằng thấm thấu  từ lớp xương xốp dưới lớp sụn của thân đốt sống.

2.Vi khuẩn gây bệnh

Các vi khuẩn sinh mủ gây viêm đĩa đệm đốt sống: trước kia, vi khuẩn thương hàn được coi là nguyên nhân gây bệnh kinh điển, nhưng ngày nay hầu như không gặp nữa. Hiện nay nguyên nhân chủ yếu là do tụ cầu vàng (60%), sau đó Enterobacteriaceae (20%), liên cầu da, trực khuẩn mủ xanh và serretia.

3.Cơ chế bệnh sinh

– Yếu tố thuận lợi: bệnh rất thường gặp ở đối tượng có suy giảm miễn dịch như corticoid kéo dài, đái tháo đường, nhiễm HIV.

– Cơ chế gây viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn mủ

Vi khuẩn sinh mủ đến gây tổn thương tại đốt sống và đĩa đệm có thể theo ba con đường chính: đường kế cận đó là ô nhiễm khuẩn gần cột sống như mụn nhọt , viêm cơ, áp xe cơ, viêm ở bộ phận sinh dục tiết niệu… theo đường tĩnh mạch hoặc bạch huyết lan vào cột sống; hoặc vi khuẩn được trực tiếp đưa vào đốt sống đĩa đệm do thầy thuốc như các can thiệp vào vùng cột sống như tiêm và chọc hút vào cột sống , các phẫu thuật ở vùng cột sống trong điều kiện khử khuẩn không tốt. Con đường nữa  là theo con đường toàn thân, viêm đĩa đệm đốt sống trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết.

Vi khuẩn sinh mủ gây tổn thương sớm nhất ở phần đĩa đệm sau đó mới xâm nhập sang thân đốt sống và các phần xung quanh. Do vi khuẩn này giải phóng ra các enzym làm tiêu hủy nhân nhầy.

Các biến chứng của viêm đĩa đệm đốt sống : áp xe được tạo ra do sự lan tràn của mủ từ nơi tổn thương tới gây viêm dây chằng và phần mô mềm kế cận. Chèn ép tủy sống bởi áp xe ngoài màng cứng, xương chết , mảng mục của đĩa đệm, áp xe phân mềm.

– Tổn thương giải phẩu đốt sống do vi khuẩn sinh mủ

Tổn thương hay gặp ở đoạn cốt sống lương, thắt lương. Tổn thương chủ yếu là hủy đốt sống và đĩa đệm.

Viêm mủ có đặc điểm là phản ứng huyết quản và xâm nhập bạch cầu tăng nhanh chủ yếu là bạch cầu đa nhân. Các bạch cầu đa nhân bị thoái hóa sẽ tạo thành mủ. Kích thước của những tổn thương thay đổi từ những vi áp xe kín đáo dần to hơn.Tổn thương phá hủy mức độ nào tùy thuộc vào vị trí của tổn thương và loại vi khuẩn.

III. TRIỆU CHỨNG HỌC VIÊM ĐĨA ĐỆM ĐỐT SỐNG DO VI

KHUẨN

1.Triệu chứng lâm sàng

* Biểu hiện tại cốt sống

– Đau có thể xuất hiện âm thầm, đau tại cốt sống tương ứng với vùng đốt sống tổn thương, lan ra phía ngực và bụng. Thường kèm theo sốt. Trên thực tế, bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm là nhồi máu cơ tim, viêm màng phổi , viêm túi mật hoặc thậm chí viêm ruột thừa.

– Khám có thể thấy một điểm đau chói khi sờ gai sau. Thường có co cứng cơ cạnh cốt sống hai bên. Giai đoạn muộn có thể lồi cột gai sống ở vị trí cột sống bị tổn thương ( nhìn hoặc sờ thấy).

* Triệu chứng toàn thân

Có hội chứng nhiễm trùng rõ rệt. Rất thường gặp ở các đối tượng có suy giảm miễn dịch ( dùng corticoid kéo dài , đái tháo đường , nhiễm HIV… ).

*Các biến chứng

– Ép tuỷ do áp xe ngoài màng cứng hoặc viêm màng cứng. Tuỳ theo vị trí tổn thương bệnh nhân có đấu hiệu như: liệt tứ chi ( tổn thương ở cốt sống cổ), liệt hai chân ( tổn thương cột sống lưng , thắt lương trên), hội chứng đuôi ngựa ( đoạn thắt lưng dưới). Kèm theo các rối loạn cảm giác nông và sâu. Phản xạ gân xương tăng. Do biến chứng này cũng khá thường gặp, nên luôn phải khám thần kinh để phát hiện triệu chứng liên quan.

– Gù do tổn thương đốt sống : biến dạng cột sống, gù cột sống, thường là gù nhọn do tổn thương một đĩa đệm với hai đốt sống lân cận.

2. Triệu chứng cận lâm sàng 

* Xét nghiệm máu

– Số lượng bạch cầu tăng, tỷ lệ bạch cầu đoạn trung tính tăng, tốc độ máu

– Cấy máu: có thể phân lập được vi khuẩn, cần làm kháng sinh đồ.

* Chẩn đoán hình ảnh

– Xquang quy ước: giai đoạn rất sớm (dưới một dưới ), Xquang quy ước đốt sống có thể bình thường. Sau một tuần, thường đã có các tổn thương đặc hiệu: hẹp khe đĩa đệm, huỷ xương về hai phía của thân đốt sống ( hình ảnh soi gương qua khe đĩa đệm).

– Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ: chỉ định trong trường hợp không phát hiện được tổn thương trên Xquang, sẽ phát hiện được các tổn thương đĩa đệm đốt sống kín đáo. Ngoài ra, có thể phát hiện được ổ mủ tại mức đốt sống tổn thương hoặc khu trú ở vùng lận cận.

– Chọc hút thăm dò dưới hướng dẫn của CT Scanner có thể lấy được mủ. Cấy mủ ( hoặc dịch tại đốt sống ) và làm kháng sinh đồ nếu phân lập được vi khuẩn.

IV. CHẨN ĐOÁN VIÊM ĐĨA ĐỆM ĐÔT SỐNG

1. Chẩn đoán xác định viêm đĩa đệm đốt sống

1.1. Chẩn đoán xác định viêm đĩa đệm đốt sống

Chẩn đoán xác định viêm đĩa đệm đốt sống dựa vào các triệu chứng sau:

– lâm sàng: đau tại cột sống , có điểm đau chói, có thể kèm theo lồi gai sống.

– Xét nghiệm: có hội chứng viêm sinh học (tốc độ máu lắng cao, CRP cao… )

– Chẩn đoán hình ảnh: hẹp khe liên đốt và huỷ xương về hai phía của thân đốt sống.

– Mô bệnh học: từ tổ chức tổn thương phát hiện được tế bào mủ ( bạch cầu đa nhân thoái hoá).

1.2. Chẩn đoán nguyên nhân gây viêm đĩa đệm đốt sống

Phân lập được vi khuẩn qua cấy máu hoặc từ tổ chức tổn thương .

2. Chẩn đoán phân biệt

– Viêm đĩa đệm đốt sống do vi khuẩn lao (bệnh Pott)

Hội chứng nhiễm trùng thường mạn tính chứ không rầm rộ như do vi khuẩn và thường không có đường vào . Có thể có tiền sử nhiễm lao ( phổi , hạch…. ); thường có triệu chứng thần kinh ( rối loạn cơ tròn , liệt – tương ứng với phần tuỷ bị tổn thương ) do áp xe lạnh chèn ép.

Chẩn đoán hình ảnh: trên Xquang quy ước hoặc cắt lớp vi tính, ngoài các hình ảnh đặc trưng chẩn đoán viêm đĩa đệm đốt sống còn thấy hình ảnh calci hoá kèm theo.

Mô bệnh học: từ tổ chức tổn thương phát hiện được tế bào bán liên, tổ chức bã đậu.

Phản ứng PCR với BK từ tổ chức tổn thương.

Phân lập được vi khuẩn BK tổ chức tổn thương : hiếm

– Chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân gây đau

Cần chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân gây đau cột sống khác như viêm cột sống dính khớp, thoái hoá cột sống, bệnh đa u tuỷ xương, ung thư di căn xương ….

V. ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc điều trị

– Dùng kháng sinh sớm, thích hợp kèm thuốc giảm đau , giãn cơ. Các kháng sinh sẽ được lựa chọn khác nhau tuỳ theo tuyến cơ sở điều trị, do càng ở tuyến đầu , tình trạng kháng sinh càng ít kháng, không cần thiết chỉ định các kháng sinh đắt tiền.

– Cố định cột sống bằng cách nằm nghỉ tuyệt đối trên nền gường cứng hoặc đeo thắt lưng cố định ( nếu tổn thương cột sống thắt lưng ), đeo vòng cổ cố định ( nếu tổn thương cột sống cổ ).

– Giảm đau, nâng cao thể trạng.

Thuốc và dịch truyền chống sốc ( nếu có)

– Nếu điều trị nội khoa không có kết quả hoặc có ép tuỷ: chuyển ngoại khoa giải phóng vùng tuỷ bị chèn ép , mổ dẫn lưu lấy xương chết và tổ chức hoại tử.

2. Điều trị cụ thể

Điều trị cụ thể tại tuyến cơ sở

– Thuốc kháng sinh

+ Đối với liên cầu khuẩn bêta tan huyết nhóm A

* Benzylpenicillin 1.000.000 ĐV/lọ, ngày tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 08 lọ, chia 4 lần.

Kết hợp gentamycin 80 mg 02 lọ, tiêm bắp một lần vào buổi sáng.

Sau hai tuần viêm , nếu kết quả tốt , chuyển sang uống (2 tuần) : amoxicillin viên 0,5 g: ngày 8 viên ,chia 4 lần.

Tổng thời gian điều trị khoảng 4-6 tuần. Nếu không đỡ, chuyển tuyến trên.

– Thuốc giảm đau

Paracetamol 0,5 g: ngày 4-6 viên chia 2-3 lần.

– Thuốc chống viêm

+ Diclofenac 50 mg: ngày 2 viên, chia 2 lần (uống sau ăn no)

– Thuốc giãn cơ: mydocalm 150 mg uống 4 viên/ngày chia 2 lần hoặc myonal 50 mg uống 3 viên/ngày chia 3 lần

Nằm nghỉ tuyệt đối trên gường cứng.

Điều trị cụ thể tại tuyến huyện

– Kháng sinh

+ Với tụ cầu vàng

. Clindamycin 2400 mg/ngày, chia 4 lần. Sau khi tiêm khoảng 2 tuần nếu triệu chứng đỡ thì có thể chuyển đường uống Clindamycin 1200- 1800 mg/ngày, chia 4 lần. Thời gian điều trị dài 4 -6 tuần.

. Hoặc cloxacillin 8g/ngày đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp chia 4 lần. Sau khi tiêm khoảng 2 tuần nếu triệu chứng đỡ thì có thể chuyển đường uống cloxacillin 4g/ ngày, chia 4 lần. Thời gian điều trị dài 4 -6 tuần.

. Hoặc cefalexin 3 – 6g/ngày đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp chia 3 lần. Sau khi tiêm khoảng 2 tuần nếu triệu chứng đỡ thì có thể chuyển đường uống  cefalexin 4 – 8g/ ngày, chia 4 lần. Thời gian điều trị dài 4 -6 tuần.

. Hoặc Pefloxacin ( đường tĩnh mạch/uống) 13 mg/kg/24h chia 2 -3 lần kết hợp gentamycin ( tiêm bắp) 3 mg/kg/24h dùng một lần trong ngày.

+ Với liên cầu khuẩn bêta tan huyết nhóm A.

. Benzynpenicillin 8 triệu đơn vị/ngày, đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp chia 4 lần. Sau khi tiêm khoảng 2 tuần nếu triệu chứng đỡ thì có thể chuyển đường uống  Amoxicillin 3 – 4g/ ngày, chia 3 – 4 lần. Thời gian điều trị dài 4 -6 tuần.

+Với Salmonella

Ciprofloxacin 1500 mg/ngày chia hai lần, thời gian điều trị 6 tuần ( chống chỉ định ở phụ nữ có thai ).

+ Với trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae.

Pefloxacin ( đường tĩnh mạch/uống)  13 mg/kg/24h chia 2 -3 lần kết hợp gentamycin ( tiêm bắp) 3 mg/kg/24h dùng một lần trong ngày ( hoặc kết hợp amikacin đường tĩnh mạch 25 mg/kg/24h một lần trong ngày).

Các thuốc kết hợp: thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuốc giản cơ.

Có thể phải làm nẹp cố định đốt sống tổn thương bằng cách nằm nghỉ tuyệt đối trên nền gường cứng  hoặc đeo thắt lưng  cố định ( nếu tổn thương cột sống thắt lưng ), đeo vòng cổ cố định ( nếu tổn thương cột sống cổ).

Điều trị cụ thể tại tuyến tỉnh , trung ương

– Thuốc kháng sinh: trường hợp vi khuẩn chưa kháng sinh thì tuỳ chủng vi khuẩn mà điều trị kháng sinh như ở tuyến huyện.

+ Trường hợp kháng sinh: đối với các chủng S.aureus kháng oxacillin được coi như kháng lại toàn bộ các kháng sinh nhóm bêta – lactam, kể cả các kháng sinh nhóm cephalosporin. Khi đó vancomycin là lựa chọn hàng đầu. Liều 2g/ ngày chia 2 lần, pha 250 ml natri clorua 0,9% ( hoặc glucose 5%), truyền tĩnh mạch ít nhất 60 phút. Chỉnh liều theo mức độ suy thận.

+ Với tụ cầu vàng, liên cầu tan huyết bêta nhóm A, Salmonella: giống thuốc điều trị ở tuyến huyện.

+ Với  Enterobacteriaceae.

. Oxacillin đường tĩnh mạch 150 mg/kg/24h chia 3 – 4 lần.

. Hoặc ticarcillin đường tĩnh mạch 200 mg/kg/24h chia 3 lần.

. Hoặc ceftriaxon đường tĩnh mạch 30 mg/kg/24h chia 3 lần.

. Hoặc imipenem đường tĩnh mạch 50 – 100 mg/kg/24h chia 3 lần.

. Hoặc Pefloxacin (đường tĩnh mạch /uống) 13mg/kg/24h kết hợp gentamycin tiêm bắp 3 mg/kg/24h một lần trong ngày.

. Hoặc fosfomycin  đường tĩnh mạch 200 mg/kg/24h chia 3 lần.

Lưu ý :khi dùng kháng sinh: duy trì thêm 4 -6 tuần kể từ khi các triệu chứng toàn thân, tại chỗ, xét nghiệm CRP, số lượng bạch cầu, tốc độ máu lắng thuyên giảm: bệnh nhân hết sốt, đỡ đau cột sống. Trường hợp nhiễm khuẩn Gram dương hoặc E. coli, kháng sinh cần phải kéo dài 2 -3 tháng. Nếu do salmonella. Thời gian dùng thuốc phải dài hơn nữa, có thể tới 6 tháng, tùy theo đáp ứng bệnh

Các thuốc kết hợp: Thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuôc giãn cơ.

Có thể phải làm nẹp cố định đốt sống tổn thương bằng cách nằm nghỉ tuyệt đối trên nền gường cứng hoặc đeo thắt lương cố định ( nếu tổn thương cột sống cổ). Khi có các triệu chứng ép tủy cần phẫu thuật giải phóng.

3. Tiên lương và dự phòng

Tiên lượng

 Tiên lượng nặng nếu tình trạng toàn thân nặng, đặc biệt khi có triệu chứng sốc nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn máu; có khả năng tử vong nếu không được chống sốc kịp thời.

Tình trạng hủy đốt sống, áp xe màng cứng hoặc ngoài màng cứng có thể dẫn đến liệt do tổn thương thần kinh tủy sống. Nhiễm khuẩn kéo dài có thể dẫn đến toàn thân gầy sút, suy kiệt, bệnh lý ổ nhiễm…

Dự phòng

Thực hiện vô trùng tuyệt đối khi làm thủ thuật ( châm cứu, tiêm tại khớp…)

Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại các cơ quan khác , đặc biệt tại da ( mụn nhọt, vết loét mục…).

.

p/s: Nếu bạn hay người thân của bạn đang hàng ngày đối diện với những khó khăn do căn bệnh khó chịu này gây ra thì đừng ngần ngại nhấc máy gọi cho chúng tôi theo hotline 0934.335.467 để được tư vấn nhé. Hoặc bạn gửi câu hỏi của bạn ở đây, chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn cho bạn.

Các từ khóa tìm kiếm nhiều: thoát vị đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm thắt lưng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, triệu chứng thoát vị đĩa đệm, chữa thoát vị đĩa đệm, điều trị thoát vị đĩa đệm, bài thuốc chữa thoát vị đĩa đệm.

Điền thông tin để nhận tư vần miễn phí

Comments

comments

4 Comments

  1. […]  2. VIÊM ĐĨA ĐỆM ĐỐT SỐNG DO VI KHUẨN […]

  2. Louie viết:

    Appreciation to my father who told me concerning this web site, this
    blog is in fact remarkable.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐIỀN THÔNG TIN ĐỂ NHẬN

20 BÀI TẬP CHỮA THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

CHÚC MỪNG BẠN ĐĂNG KÝ THÀNH CÔNG

Gọi tư vấn