0909 335 467

BỆNH KHỚP DO VI TINH THỂ PYROPHOSPHAT CALCI

35099dc1bdfcce.img_

I. ĐẠI CƯƠNG

Bệnh khớp do vi tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI (Calcium Pyrophosphate Dihydrate Crystal Arthropathies ) là  bệnh khớp rối loạn chuyển  hóa, gây nên bởi sự lắng đọng vi tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI tại khớp, tại sụn xơ và cạnh khớp. Đa số bênh thường không biểu hiểu triệu chứng lâm sàng, chỉ biểu hiện trên xquang. Một số các trường hợp biểu hiện bởi bệnh cảnh lâm sàng tương tự cơn gút cấp (gây nên bởi tinh thể Urat) nên có tên là “giả rút_ Pseudogout”. Bệnh còn được gọi là calci hóa sụn khớp (chondrocalcinosis) do có các tổn thương cacli hóa sụn hyalin, phát hiện được trên Xquang .Các khớp thường bị tổn thương nhiều nhất là khớp gối, cổ tay và háng. Nguyên nhân của bệnh chưa được biét rõ, sự tăng thoái giáng adenosine trphosphate với hậu quả là tăng PYROPHOSPHAT vô cơ tại khớp như là hậu quả của tuổi tác, yếu tố di truyền ( hoặc kết hợp cả hai yếu tố này). Sự thay đổi chất cơ bản sụn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát bệnh. Một số rất ít trường hợp có yếu tố di truyền.

II.TRIỆU CHỨNG HỌC

Bệnh thường gặp ở người cao tuổi, gần 50% số người trên 85 tuổi có hình ảnh cacli háo sụn khớp trên Xquang.

Thường gặp ở các bệnh nhân cường cận giáp trạng, nhiễm thiết huyết tố (hemochromatosis), giảm phospho máu hoặc các rối loạn chuyển hóa xương do suy thận. Một vài trường hợp, bệnh có thể xuất hiện sau chấn thương. Đôi khi, bênh nhân có triệu chứng đường hầm cổ tay.

Bệnh có 5 kiểu biểu hiện thường gặp nhất.

1.Không có triệu chứng lâm sàng (lanthanic)

Thể này thường gặp nhất : chỉ phát hiện hình ảnh trên Xquang: hình ảnh sụn hyalin hoặc sụn xơ trên Xquang khớp gối, hình ảnh sụn xơ của dây chằng tam giác ở cổ tay, tại khớp mu, khớp háng.

2.Thẻ giả gút (Acute pseudogout)

Gặp khoảng 25% số trường hợp. Biểu hiện viêm một hoặc nhiều khớp. Thường gặp khớp gối khớp cổ tay, tuy rằng có thể gặp bất kỳ khớp nào, kể cả các khớp ngón xa.

Biểu hiện lâm sàng tương tự cơn gút cấp điển hình với viêm một khớp, sưng nóng, đỏ đau, tuy rằng nói chung không quá trầm trọng. Có thể gặp viêm nhiều khớp. Cơn giả gút có thể xuất hiện sau các bệnh nội khoa như nhồi máu cơ tim,bệnh tim xung huyết, tai biến mạch não, chấn thương. Thậm chí khi caclium máu cao cũng có thể khởi phát cơn.

Một số ít trường hợp, giả gút có thể biểu hiện như hội chứng giả nhiễm khuẩn, với viêm khớp cấp, sốt và bạch cầu trong máu tăng cao và công thức chuyển trái.

Chọn hút dịch khớp từ khớp tổn thương:

+ Dịch kiểu viêm nhẹ, 10.000-50.000 bạch cầu/ml, trên 90% là bạch cầu trung tính.

+Dưới kính hiển vi phân cực, có thể phát hiện được tinh thể hình gậy, đầu tù nằm trong hoặc ngoài tế bào.

+ Nhuộm Gram dịch khớp: không tìm thấy vi khuẩn.(Mặc dù về lâm sàng, có thể loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn, song vẫn nên chỉ định xét nghiệm này để có bằng chứng).

3. Giả thoái hóa khớp ( Pseudoosteoarthritis)

Có 50% số bệnh nhân biểu hiện bởi bệnh cảnh giả thoái hóa khớp. Thường biểu hiện ở khớp ngón xa, gối, cột sống tương tự thoái hóa khớp nguyên phát. Ngoài ra còn gặp ở khớp các cổ tay, khuỷu và vai – các khớp ít gặp trong thoái hóa khớp nguyên phát. có một nửa số bệnh nhân này có kết hợp với các cơn giả gút.

Hình ảnh Xquang:

+ Gai xương, thường gặp nhất ở đầu xương bàn ngón II, III.

+ Hình ảnh calci hóa sụn khớp, rất thường gặp.

Cần chẩn đoán phân biệt với nhiễm thiết huyết tố (hemochromatosis), cường cận giáp trạng, chấn thương khớp ( ở những người vận hành máy móc nặng).

4. Thể giả viêm khớp dạng thấp (Pseudoosteoarthritis arthritis) 

Có khoảng 5% số bệnh nhân biểu hiện ở thể này: viêm khớp bàn ngón và khớp ngón gần đối xứng hai bên, có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng. Xquang có hình ảnh bào mòn xương, song thường kết hợp với calci hóa sụn khớp. Tốc độ máu lắng tăng. Yếu tố dạng thấp thường xuất hiện ở người già, song calci hóa sụn khớp giúp chẩn đoán phân biệt. Tuy nhiên, trên thực tế,  có thể có những bệnh nhân viêm khớp vi tinh thể đồng thời mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

5. Giả bệnh lý khớp do nguyên nhân thần kinh  (Pseudoosteoarthritis joins)

Khoảng 5% số bệnh nhân biểu hiệu thể này, thường gặp ở khớp gối với hủy hoại khớp nặng. Tuy vậy, không có bệnh lý thần kinh kèm theo để lý giải triệu chứng tổn thương khớp này. Hơn nữa, sự có mặt của calcihóa sụn khớp giúp chẩn đoán.

III. CHẨN ĐOÁN BỆNH KHỚP DO VI TINH THỂ

PYROPHOSPHAT CALCI

1.Chẩn đoán xác định

Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh theo hiệp hội Thấp khớp (Arthritis Foundation) Mỹ – 1997

– Tiêu chuẩn I – có tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI tại tổ chức hoặc dịch khớp (hình ảnh Xquang điển hình, vi tinh thể điển hình dịch khớp, phân tích hóa học vi tinh thể).

– Tiêu chuẩn IIa: phân lập vi tinh thể có một hoặc ba thiết diện không phân cực hoặc phân cực yếu dưới kính hiển vi phân cực.

– Tiêu chuẩn IIb: có hình ảnh calci hóa sụn khớp điển hình trên Xquang.

–  Tiêu chuẩn IIIa: viêm khớp cấp tính, đặc biệt khớp gối hoặc các khớp lớn khác.

–   Tiêu chuẩn IIIb: viêm khớp mãn tính ( khớp gối , háng, cổ tay , khuỷu, vai hoặc khớp bàn ngón), đặc biệt nếu kèm theo viêm dữ dội. các đặc điểm sau giúp phân biệt các viêm khớp mãn tính với thoái hóa khớp:

Vị trí ít gặp: Cổ tay, bàn ngón, khuỷu, vai.

Hình ảnh Xquang: khe khớp cổ tay – quay hoặc khớp đùi – bánh chè hẹp, đặc biệt nếu chỉ có triệu chứng này đơn độc.

Kén xương dưới sụn.

Mức độ thoái hóa nặng, tiến triển với hốc xương dưới sụn, thể ngoại lại nội khớp.

Gai xương tân tạo, calci hóa dây chằng, đặc biệt gân tam đầu, Achilles, mấu chuyển lớn.

2. Chẩn đoán

– Chẩn đoán chắc chắn: nếu có yếu tố I hoặc IIa và IIb

– Chẩn đoán nghi ngờ: có yếu tố IIa và IIb

– Chẩn đoán gợi ý: có yếu tố IIIa và IIIb.

Một số yếu tố có thể kết hợp với bệnh khớp do vi tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI: Vì vậy, khi chẩn đoán bệnh này ở người dưới 60 tuổi, cần khảo sát một số thông số trong huyết thanh như sau: calcium, magiê, phospho, phosphatase kiềm, sắt, khả năng gắn sắt toàn thể ( total iron – binding capacity (TIBC), transferrin bão hòa và ferritin, hormon kích thích tuyến giáp ( thyroid – stimulating hormone).

IV.  ĐIỀU TRỊ

1. Điều trị nội khoa

Chỉ định điều trị phụ thuộc biểu hiện lâm sàng.

1.1. Thể không biểu hiện lâm sàng

Thể này không cần điều trị, ngoại trừ khi có biểu hiện của các triệu chứng kết hợp như cường cận giáp cận trạng hoặc nhiễm thiết huyết tố. Trị liệu này không có khả năng phục hồi các khớp bị tổn thương mà chỉ phòng ngừa được tổn thương của các cơ quan đích.

1.2. Điều trị thể giả gút

Điều trị viêm khớp cấp tính

Thuốc chống viêm không steroid: do bệnh thường sảy ra ở người lớn tuổi, nên chỉ định các loại chống viêm không  steroid có thời gian bán hủy nhanh thường tốt hơn loại chậm. Các loại chống viêm không  steroid có gắn mạnh với 95% albumin của huyết tương nên dễ có nguy cơ tương tác với các thuốc khác (đặc biệt của người lớn tuổi là đồng thời mắc nhiều bệnh). Chỉ định phải thận trọng ở các trường hợp có suy thận, tim và gan. Liều tùy theo tình trạng lâm sàng đáp ứng của bệnh nhân: bệnh nhân đủ dễ chịu và ở trong giới hạn dung nạp được. Nói chung,liều  chống viêm không steroid dùng cho người lớn tuổi thường bắt đầu bằng liều thấp hơn liều vẫn dùng cho người. Ví dụ: Voltaren: Viên 50 mg; ngày 2 viên, chia 2 lần. Hoặc Voltaren SR 75 hoặc 100mg/viên, ngày 1 viên. Các tác dụng không mong muốn dạ dày – ruột là kinh điển đối với nhóm này, gây hậu quả chảy máu đường tiêu hóa. Có thể hạn chế tác dụng này bằng cách kết hợp với thuốc ức chế bơm proton ( ví dụ : omeprazol 20 mg hoặc esomeprazol 20mg mỗi tối uống 01 viên trước khi đi ngủ). Đây là thuốc thường được lựa chọn đầu tiên. Có thể thay thế thuốc chống viêm không steroid kinh điển bằng thuốc ức chế chọn lọc COX – 2 vì người có tuổi là các đối tượng có nguy cơ với các tai biến dạ dày tá tràng. Tuy nhiên, cần lưu ý chống chỉ định của nhóm này là bệnh nhân có tiền sử tim mạch.

Colchicin: Colchicin thường được chỉ định liều cao điều trị bệnh gút cấp. Thường khởi đầu bằng 3mg (viên nén – 1mg) trong 24h, chia 3 lần, trong 2 ngày; tiếp theo: 2mg/24h, chia 2 lần, trong 2 ngày tiếp; sau đó :1mg/24h, duy trì trong vòng 15 ngày để tránh tái phát. Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào đánh giá hiệu quả của colchicin liều cao và nói chung khả năng chống viêm của thuốc trong bệnh này cũng không thật cao như điều trị cơn gút cấp.

Các thuốc giảm đau: tương tự trong điều trị  triệu chứng các khớp bệnh khác,sự dụng kết hợp các thuốc giảm đau theo sơ đồ bậc thang của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trong bệnh calci hóa sụn khớp, thường chỉ cần dùng thuốc giảm đau bậc 1 (Thuốc không có morphin (paracétamol, salicylé s, noramidopyrine, floctafenine hoặc bậc 2 là các loại morphin yếu (codein, dextropropoxyphene, bupremorphine, tramadol).

Chọn hút dịch khớp, tiêm corticosteroid nội khớp: có thể chỉ định trong trường hợp viêm vài khớp lớn và nhỡ, đạt hiệu quả tốt. Có hai loại chế phẩm như sau:

+ Hydrocortisone acetate: mỗi đợt 2-3 mũi tiêm cách nhau 5-7 ngày. Không vượt quá 4 mũi tiêm mỗi đợt.

+ Các chế phẩm tác dụng kéo dài ( Diprospan, Depomedrol): mỗi đợt 1-2 mũi, cách nhau 6-8- tuần.

Acid hyaluronic (Go – on, Hyalgan) đường tiêm nội khớp cũng mang lại hiệu quả tốt trong các trường hợp.

Nội soi rửa khớp: chỉ định trong trường hợp các liệu pháp trên ít hoặc không hiệu quả.

Điều trị dự phòng đợt viêm khớp tái phát

Colchicin: tuy không đạt hiệu quả chống viêm khớp trong các đợt có viêm khớp cấp tính, liều Colchicin 1 mg/24 h, có hiệu quả điều trị dự phòng, giảm tần suất xuất hiện các đợt viêm khớp cấp.

Thuốc chống viêm không steroid: một số tác giả đề nghị dự phòng bằng các thuốc chống viêm không steroid kéo dài , song hiệu quả không chắn chắc.

Magienium: Các chế phẩm chứa Magienium khi dùng kéo dài có hiệu quả điều trị dự phòng, giảm tần suất xuất hiện các đợt viêm khớp cấp trong bệnh calci hóa sụn khớp. Có chế: Magienium làm tăng độ hòa tan của tinh thể PYROPHOSPHAT CALCI, và  Magienium là một cofacteur quan trọng của phosphatase kiềm, do vậy có tác dụng giảm đau và giảm tần xuất của các cơn viêm khớp cấp.

Các thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm: các thuốc thuộc nhóm này như glucosamin sulfat ( Viarthril-S), diacerein (Artrodar) có thể dùng kéo dài cũng mang lại hiệu quả giảm đau và giảm tần suất của các cơn viêm khớp cấp.

1.3. Thể giả thoái hóa khớp

Điều trị thể này bao gồm các thuốc điều trị  như thoái hóa khớp thông thường. Các thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm như glucosamin sulfat ( Viarthril-S), diacerein ( Artrodar) được dùng dài ngày. Khi bệnh nhân có đau khớp, chỉ định thêm các thuốc chống viêm không steroid và thuốc giảm đau ( Paracetamol và các chế phẩm kết hợp) ngắn ngày.

Corticoids và hoặc/acid hyaluronic tiêm nội khớp cũng mang lại hiệu quả tốt.

Trường hợp khớp thoái hóa nặng, chức năng vận động giảm, có chỉ định thay khớp nhân tạo như các trường hợp khác.

1.4. Thể giả viêm khớp dạng thấp

Điều trị thể viêm đa khớp ngoài việc chỉ định các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau, tiêm nội khớp như trên, một số trường hợp cần chỉ định Corticosteroid liều thấp (prednisone 5 mg/ngày). Thuốc Corticoid mang lại hiệu quả nhanh chóng, song có nguy cơ phụ thuộc thuốc cao.

Methotrexat cũng được chỉ định trong một số trường hợp.

2. Điều trị ngoại khoa

Vê mặt lý thuyết, có thể lấy các calci hóa khỏi khớp song thực tế ít được thực hiện

p/s: Nếu bạn hay người thân của bạn đang hàng ngày đối diện với những khó khăn do căn bệnh khó chịu này gây ra thì đừng ngần ngại nhấc máy gọi cho chúng tôi theo hotline 0934.335.467 để được tư vấn nhé. Hoặc bạn gửi câu hỏi của bạn ở đây, chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn cho bạn.

Bình luận

One thought on “BỆNH KHỚP DO VI TINH THỂ PYROPHOSPHAT CALCI

  1. Donna says:

    This is a message to the webmaster. Your BỆNH KHỚP DO VI TINH THỂ PYROPHOSPHAT CALCI – THUỐC NAM TRỊ BỆNH KHỚP website is missing out on at least 300 visitors per day. I have found a company which offers to dramatically increase your visitors to your website: http://bikin.link/15 They offer 500 free visitors during their free trial period and I managed to get over 15,000 visitors per month using their services, you could also get lot more targeted visitors than you have now. Hope this helps 🙂 Take care.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

YÊU CẦU NHÂN VIÊN NHÀ THUỐC GỌI LẠI